3/28/16

Cờ Vàng



Cờ vàng ba sọc đỏ thân yêu
Biểu tượng quê hương đẹp mỹ miều
Ba miền đất nước Nam Trung Bắc
Là hồn thiêng sông núi giống nòi

Cờ vàng ba sọc đỏ Quốc Gia
Có tự ngàn xưa thuở hai bà
Trên lưng voi cờ vàng phất ngọn
Đuổi giặc Tàu dành lại nước ta

Sao Linh


3/26/16


Phép lạ Lộ Đức của Gabriel Gargam

Biển lửa đèn cầy của khách hành hương trong đêm ở Lộ Đức
Năm 1858, tại hang động Massabielle, gần Lộ Đức (Lourdes) nước Pháp, Đức Mẹ Đồng Trinh Maria đã hiện ra 18 lần với cô thiếu nữ nghèo 14 tuổi Bernadette Soubirous. Người đã tỏ mình ra cho cô bé biết về đặc ân đồng trinh trọn đời. Thông qua Bernadette, Mẹ đã nhắn nhủ đến mọi người: Hãy cầu nguyện và sám hối để thay đổi thế giới. Giáo hội đã mất 4 năm để xác thực lời chứng của Bernadette trước khi công bố phép lạ Đức Mẹ Lộ Đức. Từ đó Lộ Đức đã trở thành một nơi linh thiêng rất nổi tiếng, thu hút hàng triệu tín đồ hành hương mỗi năm. Đã có hàng ngàn ơn chữa lành bệnh tật đã xảy ra tại nơi này.
Cục Y tế được thành lập từ năm 1882 để kiểm tra tính xác thực của những ca chữa bệnh tại đây. Hơn 500 y bác sĩ thuộc cùng tôn giáo hoặc vô thần đều được mời đến mỗi năm. Rất nhiều cuốn sách và phim điện ảnh đã kể về câu chuyện ở Lộ Đức. Thậm chí cả Hollywood cũng đã dựng một bộ phim để về sự kiện đáng nhớ này vào năm 1940 với tên gọi “Bài hát của Bernadette” – từng đạt 4 giải thưởng Oscar vào năm 1943, 3 giải tại Liên hoan phim Quả Cầu Vàng năm 1944
Không ai rời Lộ Đức mà không mang theo niềm tin. Một số người đến với Lộ Đức với những định kiến suốt đời để rồi tâm hồn họ được gột rửa. Thái độ hoài nghi thay bằng niềm tin, vẻ thờ ơ và sự đối kháng trở thành con tim yêu mến Thiên Chúa.
---
Câu chuyện về Gabriel Gargam
Trường hợp của Gabriel Gargam có thể là một trong những câu chuyện nổi tiếng nhất trong hàng ngàn trường hợp đã được chữa trị tại Lộ Đức, phần vì ông khá nổi tiếng, phần khác vì ông được đón nhận ơn chữa lành tâm hồn và thể xác.
Sinh năm 1870 trong một gia đình Công giáo đạo đức, ông sớm hứa hẹn sẽ trở thành một chàng sinh viên thông minh và một giáo dân nhiệt thành. Lời hứa ấy đã không được trọn vẹn vì năm 15 tuổi, ông dường như mất hết niềm tin vào Thiên Chúa. Ông tìm được một công việc trong bưu điện và được giao nhiệm vụ là người phân loại bưu phẩm vào tháng 12 năm 1899.
Trong một chuyến xe lửa đi từ Bordeaux đến Paris, tàu của ông bị va vào đoàn tàu khác chạy ngược chiều với vận tốc 50 dặm/h, Gargam bị văng xa 50 feet khỏi xe lửa. Ông nằm giữa trời tuyết, bị chấn thương nặng và bất tỉnh trong 7 giờ đồng hồ. Khi đến bệnh viện, ông dường như đã tắt thở. Sau 8 tháng, cơ thể Gargam chỉ như một bộ xương với đôi chân bị hoại tử. Ông sụt gần 30kg dù bình thường ông là người rất to con. Gargam cũng không thể tự ăn mà chỉ có thể truyền thực phẩm vào cơ thể bằng ống. Ông quyết định kiện ngành đường sắt và tòa án Appellate đã thừa nhận lời tuyên án của phiên tòa trước đó. Ông được bồi thường 6000 francs, bên cạnh mức phí tổn 60.000 francs.
Cuộc sống của Gargam rơi vào tuyệt vọng, ông chỉ có thể nằm một chỗ, mọi sự vận động đều phải có sự hỗ trợ của hai y tá. Các bác sỹ chứng thực ông hoàn toàn tàn phế và chỉ có thể nằm đó đến khi cái chết giải thoát cho ông.
Trước khi tai nạn xảy ra, Gargam đã không đến nhà thờ trong vòng 15 năm. Dì của ông, một nữ tu của dòng Thánh Tâm đã nài nỉ ông đến Lộ Đức nhưng ông từ chối. Cuối cùng, chỉ sau khi nghe lời van xin của mẹ mình, ông mới chấp nhận đến Lộ Đức. Gargam chưa từng rời khỏi giường của mình sau khi bị tai nạn. Ông được mang lên cáng đưa ra tàu lửa và bị đuối sức đến bất tỉnh suốt một giờ đồng hồ. Mọi người muốn dừng lại cuộc hành hương vì ông có thể sẽ chết trên đường nhưng mẹ ông vẫn cố nài nỉ để chuyến đi được thực hiện.
Khi đến Lộ Đức, Gargam đi xưng tội và nhận phép Hòa Giải nhưng tình trạng vẫn như thế. Ông được mang đến hồ nước phép, ngâm mình trong dòng nước nhưng kết quả còn tồi tệ hơn khi ông ngất đi. Sau một thời gian không thể hồi tỉnh, mọi người nghĩ rằng Gargam đã chết. Họ đưa xe ngựa trở về lại khách sạn trong nỗi đau thương. Trên đường trở về, có một đoàn rước Thánh Thể đang tiến tới gần, họ đứng nép sang một bên, phủ quần áo trên mặt người đàn ông được cho là đã chết.
Khi vị linh mục mang Mình Thánh lướt qua, ngài đã đọc lời chúc lành đến với đám đông âu sầu đang đứng xung quanh người đàn ông kia và đột nhiên có sự chuyển động dưới lớp vải. Trong khi người thân của ông dường như đứng lặng đi và đám đông còn đang sửng sốt thì Gargam quả quyết rằng ông muốn đứng dậy. Mọi người nghĩ đó có thể là tình trạng mê sảng trước cái chết và cố gắng dỗ dành ông. Gargam đứng thẳng lên, bước đi vài bước và nói rằng mình đã được chữa trị. Ông trở về khách sạn, bước đi bình thường và ngồi trên bàn dùng bữa một cách vui vẻ.
Ngày 20 tháng 9 năm 1901, 60 bác sĩ danh tiếng đã đến kiểm tra cho Gargam. Với việc chữa trị hoàn toàn bất – tự – nhiên này, họ công nhận rằng ông đã khỏi bệnh. Gargam cùng lòng biết ơn với Thiên Chúa đã tự nguyện hiến thân để phục vụ vô vị lợi tại Lộ Đức.
Gargam đã lập ra một công ty nhỏ, kết hôn với một cô gái sùng đạo, người đã hỗ trợ ông hết lòng trong công việc tông đồ. Trong hơn 50 năm, ông thường xuyên trở lại Lộ Đức làm công việc khiêng cáng cho bệnh nhân.
Lễ Ngân khánh ơn chữa lành của ông được tổ chức trọng thể vào ngày hành hương toàn quốc ở Pháp năm 1951. Gargam ngồi trên ghế ở quảng trường Mân Côi, xung quanh là 1.500 bệnh nhân vào hơn 50.000 tín hữu khác. Sau lần viếng thăm cuối cùng vào tháng 8 năm 1952, ông mất vào tháng 3 năm 1953, hưởng thọ 83 tuổi.
(Bản dịch được lấy ở internet)
Chuyện lạ : Trào lưu lấy sư ở Nhật




Theo Phật giáo thì làm gì có chuyện sư lấy chồng lấy vợ. Thậm chí ở nhiều nước thì chuyện nhà sư yêu đương bị coi là điều phạm giới luật. Tuy nhiên ở Nhật thì lại khác, lấy chồng sư đang trở thành trào lưu.
alt
Các nhà sư luôn được các cô gái chú ý tiếp cận.
Mới đây, bộ phim tình cảm “Sáng 5 tối 9” chiếu trên Đài Fuji TV với nội dung nói về mối tình thơ mộng giữa Sakuraba Junko, cô giáo tiếng Anh và nhà sư đẹp trai Hoshikawa đã gây nên sự chú ý đặc biệt. Nếu ở các quốc gia khác thì chuyện nhà sư yêu đương bị coi là điều phạm giới luật, trái lẽ thường, thì ở Nhật, các nhà sư lại là đối tượng có sức thu hút đặc biệt đối với các cô gái có ý định lấy chồng. Bởi ở Nhật, nhà sư có thể không cạo đầu, nghề nghiệp ổn định, được phép uống rượu ăn thịt, lấy vợ sinh con. Cha của nhà văn nổi tiếng Haruki Murakami cũng là một nhà sư.
Trên các đường phố lớn Nhật Bản, lúc nào người ta cũng có thể thấy các nhà sư mặc cà sa, lái xe phóng ào ào. Đó là lúc họ đang đi làm phật sự, hoặc có thể đến công ty. Một lúc sau, lại có thể thấy người lúc nãy mặc cà sa giờ đang khoác tay một cô gái đẹp đi dạo trong công viên. Vấn đề quan trọng nhất là nhà sư có thể lấy vợ sinh con, ăn thịt uống rượu. Chính vì môi trường hành đạo rộng rãi, phóng khoáng như thế nên ở Nhật chùa chiền được xây dựng rất nhiều, ở khắp nơi.
Chưa hết, thỉnh thoảng ở Nhật đều tổ chức thi nhà sư đẹp, thành lập cả ban giám khảo để bình chọn ra thứ bậc; xuất bản cả sách “Mỹ hòa thượng đồ giám” (Ảnh các hòa thượng đẹp) tập hợp 40 nhà sư đẹp nhất ở các địa phương. Cuốn sách ảnh này rất được ưa thích.
Mấy năm gần đây, thị trường môi giới hôn nhân ở Nhật nóng lên khác thường bởi số đàn ông, phụ nữ đã qua tuổi trưởng thành nhưng vẫn độc thân rất nhiều. Phụ nữ Nhật khi chọn đối tượng kết hôn rất coi trọng nghề nghiệp, bởi nghề nghiệp là đại diện cho thực lực kinh tế của người đàn ông. Trước đây, các chàng trai là bác sĩ, sĩ quan quân đội và công chức được các nàng theo đuổi nhiều nhất; thế nhưng nay thì các nhà sư mới là đối tượng “đắt giá” nhất bởi hiện nay vị thế các nhà sư trở nên rất cao, rất nhiều phụ nữ đơn thân tranh nhau ghi danh tham gia các cuộc giao duyên với nhà sư, gọi là “Hòa thượng liên nghị hội” với mong muốn tìm được người tâm đầu ý hợp để nên duyên vợ chồng. Điển hình như tháng 6/2013, một cuộc giao duyên như thế được tổ chức tại Niigata, 13 nhà sư trong độ tuổi từ 20 đến 40 tham gia. Điều bất ngờ là có tới hơn 20 cô gái trẻ đã đăng ký “tương thân”, kết quả 8 cô đã chọn được người tâm đầu ý hợp và quyết định tiến tới hôn nhân. Vì sao các cô gái trẻ lại trở nên say mê các nhà sư như thế? Chính các phụ nữ trẻ này đã đưa ra các lý do giải thích:
Thứ nhất, các hòa thượng đem lại cảm giác rất bao dung, yên tâm, “nhất định không có chuyện ngoại tình”, “rất đáng tin cậy”. Tuy cũng uống rượu, ăn thịt, nhưng đại đa số các nhà sư đem lại cho người ta cảm giác bình an, rất yên tâm.
Thứ hai, công việc khá ổn định, không bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế. Các nhà sư sống trong chùa có nơi ở ổn định, công việc ổn định, có thu nhập khá cao. Cuộc sống của các nhà sư được khái quát là “hai mẫu đất, một con bò; tối tối ríu rít cùng vợ con”. “Hai mẫu đất” hàm ý các chùa chiền đều có khoảnh đất rộng, các nhà sư được phép kinh doanh đất đó bán cho người ta xây mộ, mỗi mộ địa 2-3 mét vuông có giá tới cả triệu Yên. Với số tiền bán đất và tiền công đức của khách thập phương, tín đồ, cuộc sống của đa số các gia đình sư trụ trì rất đàng hoàng. Còn “một con bò” là chỉ chiếc xe hơi dùng để đi lại làm phật sự. Các nhà sư ở chùa thành phố ai cũng có xe hơi, còn các sư ở chùa nông thôn thì thích dùng mô tô. Một số nhà sư còn “chân đạp hai con thuyền”, tức ngoài việc trụ trì chùa, làm phật sự, họ còn có thể mở công ty kinh doanh, trở thành thương gia. Thậm chí có nhà sư còn trở thành đạo diễn phim nổi tiếng.
Đại đa số các tông phái Phật giáo ở Nhật theo chế độ “thế tập”, cha truyền con nối, tức là sau khi sư trụ trì viên tịch, người kế thừa chính là con trai ông. Có nhà sư là chủ công ty bởi trước đó ông đã là kỹ sư, sau khi người cha hòa thượng qua đời, ông được kế thừa ngôi vị trụ trì, thế là ông vừa làm sư, vừa là chủ công ty. Hiện tượng này tuy không nhiều, nhưng được xã hội Nhật Bản cho phép.
alt
Một nhà sư đẹp trai.
Sau nữa, lấy nhà sư vào sống trong chùa chiền, sống trong không khí yên tĩnh, thoát ly bụi trần, người ta sẽ cảm thấy thời gian như chậm lại, tâm trạng luôn thư thái, dễ chịu.
Tuy nhiên, cuộc sống khi vào chùa làm vợ nhà sư cũng không phải chỉ là an nhàn, hưởng thụ. Những phụ nữ đã làm vợ các nhà sư qua thực tế đã rút ra những điều bất cập sau: Thứ nhất, tháng Giêng và lễ Vu Lan là dịp mệt nhất, cả sư lẫn vợ đều bở hơi tai; Thứ hai, không còn bí mật riêng tư, nhất là ở các chùa thôn quê. Do sống nhờ bằng tiền nhang đèn của dân chúng nên luôn bị mọi người chú ý, luôn có cảm giác lo lắng. Sống ở chùa do người ta xây dựng, không phải là sở hữu cá nhân, thường gặp những người đến chùa coi việc vợ chồng nhà sư phải phục vụ họ là đương nhiên, đưa ra yêu cầu này nọ. Thứ ba, việc quét dọn chùa rất mệt, nhất là vào tháng Chạp vì chùa phải rất sạch để đón mọi người đến lễ. Hiện một số chùa lớn có thể thuê công nhân vệ sinh, nhưng một số chùa nhỏ thì chẳng có nhiều tiền để thuê nên việc quét dọn chùa do gia đình nhà sư đảm nhiệm. Thứ tư, quanh năm không được nghỉ. Dù không bận việc thì vợ chồng nhà sư cũng không thể bỏ chùa đi du lịch đây đó được bởi chùa luôn phải có sư làm phật sự. Không được đi nghỉ là điều khiến các bà vợ tiếc nhất. Thứ năm, thường là phải “tam đại đồng đường”. Nếu như ở Việt Nam, đây là điều thường thấy, nhưng ở Nhật Bản con cái đến tuổi trưởng thành thường không ở cùng cha mẹ; nhưng nếu ở trong chùa thì vẫn phải sống cùng nhau. Do đó nếu các cô gái lấy nhà sư là phải chăm sóc cha mẹ chồng. Chính điều này đã khiến nhiều cô gái cảm thấy đau khổ. Thứ sáu, cơ bản là không được tự do. Khi tiếp khách đến chùa phải ăn mặc, để tóc theo quy định, không được ăn mặc quá bộc lộ. Ra ngoài, mọi người đều biết đó là vợ nhà sư nên cũng phải chú ý giữ gìn lời nói, cử chỉ.
Tuy nhiên, dù có những điều than vãn trên đây, nhưng rất nhiều phụ nữ đã kết hôn với nhà sư bày tỏ họ không hề hối hận và cảm thấy rất hạnh phúc khi sát cánh cùng chồng hoạt động phật sự.

FB Tigone Lê

3/24/16


NGƯỜI VIỆT ĐỘC ÁC VỚI NHAU TỪ BAO GIỜ VÀ BAO GIỜ SẼ THÔI?

Theo tổng kết của WHO được báo chí đăng lại, mỗi năm, Việt Nam có thêm 200.000 người mắc ung thư và trong số đó 70.000 phải chết. Theo tỉ lên dân số, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về tỉ lệ mắc và chết vì ung thư. Nguyên nhân chính đến từ thực phẩm nhiễm độc. Người Việt đầu độc nhau.
Hai câu hỏi, đúng ra là hai câu than thở thường nghe: “Bao giờ người Việt mới thôi độc ác với nhau?” và “Người Việt bắt đầu độc ác với nhau từ lúc nào?”
Thật ra, người Việt cũng giống như bất cứ giống dân nào trên thế giới, khi sinh ra có cả tốt lẫn xấu trong người chứ không chỉ biết độc ác với nhau mà thôi. Chính các điều kiện xã hội, cơ chế chính trị đã khơi mầm tội ác và ngăn chận những mầm tốt được sản sinh.
Nhật Bản là một ví dụ. Trước 1946, Nhật không phải là một nước hiền hậu, nhân bản như ngày nay. Bước chân của đạo quân Nhật đi qua cũng để lại những điêu tàn, thảm khốc không khác gì vó ngựa của đạo quân Mông Cổ đi qua trong nhiều trăm năm trước. Chính sách chinh phục và cai trị tàn bạo của Nhật đối với dân tộc Triều Tiên chẳng hạn là một bằng chứng tội ác khó mà quên. Ăn cướp tài sản của người dân trong vùng bị quân đội Nhật chiếm là hành vi phổ biến. Nạn đói tại Việt Nam năm 1945 với hàng triệu đồng bào miền Bắc chết một phần là do chính sách ác độc tịch thu thóc để nuôi ngựa của quân đội Nhật.
Thế nhưng điều kiện xã hội thay đổi sau hiến pháp dân chủ 1946, đã làm cho con người Nhật tốt hơn, thương yêu nhau hơn, kính trọng nhau hơn và tôn trọng luật pháp mà chính họ đặt ra chứ không do ai gán ghép. Phần nhập đề của Hiến Pháp Nhật 1946 khẳng định Nhật Bản dứt khoát từ bỏ quá khứ và xây dựng một Nhật Bản dân chủ thịnh vượng do dân và vì dân.
Trong giải túc cầu thế giới trên sân vận động Johannesburg ở Nam Phi 2010, khi tàn trận đấu, các hàng ghế đầy rác rến, lon, ly v.v. ngoại trừ khu người Nhật. Họ đứng lên và dọn rác của mình trước khi ra về dù đang rất buồn vì hôm đó đội Nhật thua. Nước Nhật là một quốc gia được cả thế giới kính trọng không phải chỉ về mặt kinh tế mà nhất là văn hóa.
Những hiện tượng bất nhân, độc ác đang thấy tại Việt Nam chỉ là quả chứ không phải là cây và do đó hái dăm trái thối hay thậm chí hái hết trái trên cây đi nữa sang mùa khác chúng sẽ được sinh ra.
Tội ác sẽ không bao giờ xóa được khi các nguyên nhân gây ra tội ác vẫn còn tồn tại.
Người Việt sẽ không bao giờ bằng người Nhật? Tại sao không. Người Việt có khả năng vươn lên như bất cứ dân tộc, quốc gia nào trên thế giới nếu có cơ hội, và cơ hội đó không do ai ban phát mà phải tự tạo cho chính mình.
Trần Trung Đạo