6/5/17

NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ TÔI GẶP TRÊN CẦU.

Càng về xa thì sông càng rộng. Ðến đường chân trời thì mở ra bát ngát như một cái hồ. Chỗ hẹp nhất có một cây cầu lớn. Xe cộ tấp nập ngày và đêm, nhưng cứ đến khoảng gần tối, khi dãy đèn hai bên thành cầu vừa bật sáng thì cầu vắng hoe, họa hoằn mới có vài chiếc xe qua. Vào giờ này gió nhiều, gió xa về ngùn ngụt. Tôi hay đi dạo trên cầu vào lúc này. Ði để nghĩ vớ vẩn, hay là không nghĩ gì .
Hôm ấy, chạng vạng tối, tôi đứng vịn thành cầu nhìn dòng nước phản chiếu ánh đèn mầu phố xá hai bên bờ. Một người đàn bà đi ngược chiều, dừng lại sau tôi, tiếng gọi khẽ:

– Anh … 

Tôi quay lại. Người đàn bà ngập ngừng rồi nói rất nhanh, như thể nếu nói chậm sẽ không còn can đảm để nói:
– Mình đi chơi đi anh. Tiền phòng một giờ năm chục, còn anh muốn cho em bao nhiêu tùy anh...

Tiếng nói yếu đuối, mệt nhọc, lẫn với hơi thở. Không trả lời, tôi quan sát nhanh. Gần 50 tuổi, tóc khô, vài sợi bạc, đôi mắt lớn buồn thảm, nhiều nếp nhăn với quầng thâm u uẩn, miệng nhỏ, sống mũi cao thanh nhã. Một nhan sắc rơi rớt từ dĩ vãng xa lắc lơ.

Tiếng nói vẫn nhanh, yếu và ngượng ngùng:

– Nếu anh không đi thì giúp em chút. Em… khổ quá.

Tôi không biết nói gì, cho tay vào túi sau, móc ra mấy tờ giấy bạc nhàu, vuốt thẳng, thành kính đưa về phía trước bằng cả hai tay. Không hiểu sao tôi lại có thái độ trịnh trọng như thế. Người đàn bà nhận những tờ giấy bạc cũng bằng hai tay cùng với lời cám ơn thì thầm như kinh nguyện. Hai đôi mắt gặp nhau, im lặng. Một thoáng, tôi thấy tôi và người này là hai tín đồ đang cử hành thánh lễ của một tôn giáo quái dị. Tôn giáo phụng thờ Ðau Khổ và Khốn Cùng. Gió bắt đầu lạnh, gió phần phật thổi chiếc áo trắng mỏng ép sát vào thân hình gầy gò người đàn bà với hai gò ngực lép, nhấp nhô. Chào nhau rồi đi, đi về hai phía khác nhau. Một cảm giác nhói đau như là lần từ biệt sau cùng trong đoạn kết của một chuyện tình.
Hôm sau, cũng vào giờ đó, tôi lại đi trên cầu. Ði và nghĩ đến người đàn bà gặp ngày hôm qua. Một chiếc xe gắn máy dừng lại gần chỗ tôi, phía trước. Trên xe bước xuống hai người đàn bà còn trẻ. Quần đùi, áo thun. Một tóc ngắn và một tóc dài. Họ dựng xe, ngồi xuống lề đường. Tóc Ngắn vén tay áo lên bóp bóp chỗ khuỷu tay, Tóc Dài rút trong túi quần ra một vật gì nhỏ, trăng trắng. Tôi đến gần hơn. Ma túy. Thấy tôi nhìn, Tóc Dài quắc mắt:

– Nhìn gì cha nội!

Hình xăm bông huệ tím trên vai và ống tiêm với đầu mũi kim nhỏ như răng rắn độc làm tôi ơn ớn. Không nói gì, tôi đi tiếp. Ði và nhớ đến người đàn bà tôi gặp hôm qua, so sánh với hai người đàn bà tôi gặp hôm nay và cũng lẩn thẩn so sánh với cuộc đời mình. Chẳng khác nhau là mấy. Gió bắt đầu lạnh. Thôi về.
Đêm ấy tôi mơ thấy tôi nằm bên người đàn bà có đôi mắt quầng thâm buồn thảm trong một căn phòng lớn ngập ánh trăng chiếu từ cửa sổ. Đôi mắt vẫn chớp, nước mắt vẫn chảy, nhưng trái tim đã ngưng đập và tấm thân gầy gò đã lạnh ngắt tử thi. Cạnh giường, ả ma túy đứng trần truồng, tóc phủ đầy mặt, đôi mắt trắng dã và trên tay cầm lăm lăm một ống kim tiêm. Từng cơn gió lạnh thổi lộng suốt giấc mơ. 

Ngày hôm sau nữa, khi vừa bước lên cầu vài thước, đầu óc còn váng vất vì giấc mơ đêm qua. Một bà cụ chống gậy lom khom, trước ngực đeo một cái túi vải, chìa ra trước mặt tôi một xấp vé số:

– Ông mua giúp cho vài tờ. Chiều mai xổ.

Tôi không thích mua vé số, nhưng bà cụ này có gương mặt và thân hình hao hao giống mẹ tôi. Cũng thấp bé, giọng Bắc nhỏ nhẹ. Lòng tôi chùng xuống, lấy hai tờ, trả tiền, nhìn bà cụ một thoáng rồi đi. Ði và nghĩ đến mẹ. Ngày ấy, ở một miền đất nắng cháy mưa dầm, đói ăn và sốt rét, mẹ tôi như một con gà mái già xòe đôi cánh xơ xác ôm lấy những đứa con trong những tháng năm khốn khó. Nếu mẹ tôi còn sống, không biết bà có phải sớm khuya lang thang kiếm sống như bà cụ này không. Nhìn vào hai tấm vé số, tôi sững người, dừng lại. Vé số xổ rồi, cách đây hai ngày. Không biết hôm nay bà cụ đã lừa được bao nhiêu người và tôi là người thứ mấy bị lừa. Quay đầu nhìn lại. Từ xa, tôi vẫn thấy bà cụ đang chống gậy lần từng bước lom khom qua đường. Lúc này không gì cần hơn là một tiếng thở dài.

Hôm nay tôi lên cầu đi dạo sớm hơn mọi ngày. Vẫn đi và nghĩ vớ vẩn. Một chiếc xe tang chở những người áo tang khăn tang qua cầu. Xe chạy nhanh, trên xe không có áo quan. Hình như vừa chôn cất xong, về từ nghĩa địa. Có lần tôi đọc ở đâu đó rằng khi tẩm liệm, xác chết được đặt nằm ngửa, ngay ngắn. Nhưng nhiều năm sau, khi cải táng, người ta thấy bộ xương nằm co quắp, nằm nghiêng, trên nắp áo quan có dấu móng tay cào. Có phải là người chết đã sống lại trong áo quan? Và trong phút hồi sinh ghê rợn ấy người chết đã làm gì? Ðưa tay cào nắp áo quan? Phải chăng tôi cũng đã chết, đã chết lâu rồi, và thế giới quanh tôi chính là một cái áo quan? Một phút bằng 60 giây, Thuyết thời gian tương đối gi gì đó cho rằng 60 giây cũng có thể bằng 60 năm? Trong 60 năm hay là 60 giây ấy tôi đã làm gì? Ðắm đuối, đam mê, vắt cạn sức lực để chiến đấu cho những khát vọng này nọ, chẳng qua cũng như là xác chết đưa tay cào nắp áo quan? Lại nghĩ vớ vẩn rồi… không sao, tôi là vậy đấy. Nghĩ tiếp. Và tôi nghĩ đến một đoạn thơ của Chim Hải, cũng là một người đàn bà tôi gặp trên cầu nhưng gặp trong tâm thức khi đang đi dạo:

tôi hoang vu mịch lặng cõi người
tôi mắt ráo nhìn tôi lùi mấy mùa thơ rớt
vắt cạn đam mê đuối / đắm cõi tôi
cào xước hòm đời
........
Tiết tấu chênh vênh, ngôn từ lạ lùng, ý tưởng táo bạo, và tính sáng tạo đã làm cho những câu thơ này trở nên rất kén người đọc, nghĩa là không phải ai cũng có thể đọc, nhưng đã đọc được rồi thì thấm thía tận cõi lòng…Vậy đấy, hết nghĩ chuyện xác chết tỉnh dậy cào xước hòm rồi lại lan man sang chuyện văn chương thi phú. Và tôi còn tiếp tục nghĩ vớ vẩn nữa nếu không nghe thấy tiếng chào:

– Chào ông.

Người đàn bà tay cầm quyển sách nhỏ đứng bên thành cầu tự giới thiệu:

– Tôi là người trong ban truyền giáo hội thánh Tin Lành. Tôi thấy ông vẫn thường đi qua đây vào giờ này. Nhìn dáng đi và nét mặt ông, tôi đoán biết ông có nhiều chuyện buồn.
Tôi nói:
– Dạ.
– Mai Chủ Nhật, vào lúc 5 giờ chiều, mời ông đến chia sẻ với chúng tôi tại nhà thờ, chúng ta cùng nhau cầu nguyện. Ðấng Cứu Thế, người đã chết rồi và sống lại sẽ nâng đỡ gánh nặng cho ông.

Giọng nói ân cần, hiền hậu. Không hiểu sao, tôi thấy người đứng trước mặt tôi bỗng dưng đẹp lạ kỳ, đẹp xán lạn. Vẻ đẹp của thánh thiện và lòng tin. Vẻ đẹp làm hồn tôi nhẹ lâng như một cánh lông chim bay trong gió. Tôi đang sống trong những trang thần thoại. Thần Linh đã sai người này đến gặp tôi với ơn thiêng cứu chuộc. Nhớ đến một câu hát của Phạm Duy:“Gặp nhau trong vinh dự đời người. Gặp nhau dưới đức tin bao la phơi phới”. Tôi hỏi nhà thờ ở đâu. Nhìn theo ngón tay người đàn bà, tôi thấy ở phía xa bên kia sông một thập giá mờ mờ in hình lên bầu trời một ngày sắp tàn.

Tôi không còn ở thành phố có cây cầu ấy nữa. Nhưng một hôm về ngang ở lại một đêm, đến tối, tôi lại ra cầu đi dạo. Ðêm ấy không ai gọi tôi dừng lại. Tôi đứng nhìn dòng nước, nhớ đến những người đàn bà tôi đã gặp trên chiếc cầu này. Mỗi người đã đi về mỗi phía, sống nốt đời mình. Dòng nước dưới chân cầu vẫn chảy, vẫn phản chiếu ánh đèn mầu phố xá hai bên dòng sông, khi gió lớn, lung linh như thiên đường.
_________________
nguyễn quang tấn. (post lại theo yêu cầu của ng.)

6/4/17

Lời phật dạy Đời là vô thường hãy buông xả


ĐỜI LÀ VÔ THƯỜNG - Nghe Để Giác Ngộ Bớt Khổ Trong Cuộc Sống 


Kẻ tham lam tự rước họa sát thân, người kính Phật biến tai ương thành phúc phận


Nhân quả báo ứng có lẽ đã dần trở thành một khái niệm xa lạ với con người hiện đại. Người ta dường như chỉ còn biết lao vào vòng xoay của bạc tiền, quyền lực, ái tình… như một chú thiêu thân và đành lòng lờ đi hậu quả phải gánh chịu một khi ra tay làm việc ác. Nhưng “Thiện ác hữu báo” (thiện ác đều có báo ứng) từ lâu đã là lẽ trời, chẳng ai tránh nổi. “Lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt” thật đúng vậy thay. 
Hồng Mại, học giả nổi tiếng đời nhà Tống trong quyển “Di Kiên Chí” có thuật lại mấy câu chuyện nhân quả báo ứng có thật lúc bấy giờ, đến nay vẫn có ý nghĩa giáo dục, cảnh tỉnh vô cùng sâu sắc.
Ăn hối lộ rước lấy tai hoạ
Năm Kiến Viêm thời Tống Cao Tông (năm 1127), Thượng thư Phó Quốc Hoa nhậm chức Thái thú Thư Châu. Bấy giờ chính ngay lúc Tống quốc loạn trong giặc ngoài, tình thế rối ren. Ông ta nghe nói giặc cướp hoành hành ở Vũ Xương, lòng nghĩ:
“Vũ Xương cách Thư Châu rất gần, nếu lũ giặc cướp đó chốc lát đánh đến đây, thể nào cũng sẽ cướp sạch hết toàn bộ tài sản bất nghĩa mà mình đã khổ công tích cóp bấy lâu. Đặc biệt là số kỳ trân dị bảo khi mình đi sứ sang Cao Ly (Triều Tiên) còn chưa giao nộp lại cho triều đình, đều bỏ vào túi riêng. Số báu vật này đều rất có giá trị, không thể để bị cướp mất được!“.
Thế là Phó Quốc Hoa bèn cùng cả gia đình mang theo toàn bộ tài sản lên thuyền đi đến Giang Ninh (Nam Kinh ngày nay) tránh nạn, không chút đếm xỉa đến an nguy của muôn dân bá tánh Thư Châu. Đến Giang Ninh, thuyền đỗ ở bờ Trường Giang. Người thuyền phu nói: “Ngoài thành giặc cướp rất nhiều, chi bằng hãy chèo thuyền đi qua cửa con đập, rồi cho thuyền chạy bên trong đập nước trong thành“.
Quan trấn giữ Giang Ninh khi đó tên là Vũ Văn Trọng Đạt, vốn có giao tình rất sâu sắc với Phó Quốc Hoa. Hay tin bạn tới, Vũ Văn Trọng Đạt bèn ra lệnh mở cửa đập, cho thuyền của Phó Quốc Hoa đậu ở trong thành Gianh Ninh. Phó Quốc Hoa bấy giờ mới cảm thấy an toàn. Cả nhà và tài sản đều để trên thuyền, lại đậu ở đập nước trong thành, thực đúng là muôn phần chắc chắn, không chút sơ hở.
Ảnh minh họa. Dẫn theo megafun.vn
Nhưng người tính chẳng bằng trời tính. Không ngờ ngay đêm ấy, một kẻ hầu tên là Chu Đức tạo phản, cướp lấy thuyền của Phó Quốc Hoa, giết sạch toàn bộ gia quyến của ông ta. Chỉ có một bà lão bộc được tha mạng. Còn thành Thư Châu mà Phó Quốc Hoa rời bỏ lại bình an vô sự, không hề bị giặc cướp xâm phạm.
Trên đời vốn không có chuyện gì là ngẫu nhiên. Kiếp nạn của Phó Quốc Hoa há chẳng phải là nhân quả liền mạch hay sao? Trong lòng chỉ cần có tâm ác, một ý niệm không chính sẽ dẫn đến những hậu quả thực sự nghiêm trọng, thậm chí có thể dẫn đến thân bại danh liệt, mạng sống chẳng giữ nổi.
Kính Thần Phật tránh được tai ương
Cùng thời với Phó Quốc Hoa có một người khác tên là Cố Ngạn Thành. Ông nhậm chức Tào vận quan ở Lưỡng Triết (Triết Giang, Giang Tô, Thượng Hải ngày nay), sống ở Hàng Châu. Ngày thường Cố Ngạn Thành làm việc rất cẩn trọng, lại tín phụng Thần Phật.
Ông có một kẻ thù tên là Trần Thông. Kẻ này muốn nhân lúc binh mã loạn lạc phát động binh biến lật đổ. Nhưng bởi Cố Ngạn Thành đi đến vùng Triết Giang thị sát công tác vẫn chưa về, hắn đành phải nén lửa giận trong tâm, gắng đợi đến khi Cố Ngạn Thành tuần thị trở về mới khởi binh, muốn nhân thể sát hại cả nhà Cố Ngạn Thành một lượt.
Chờ đợi cả mấy hôm, cuối cùng Cố Ngạn Thành đã về đến Hàng Châu. Có rất nhiều quan viên và lão bá tánh trong vùng ra nghênh đón ông. Trần Thông tận mắt nhìn thấy cảnh tượng này, bèn quyết định khởi binh ngay trong đêm, thoạt tiên sẽ giết sạch cả nhà Cỗ Ngạn Thành.
Ngay sau khi về đến Hàng Châu, Cố Ngạn Thành quên cả nghỉ ngơi, vội vã thu xếp tới một ngôi miếu ở ngoài thành lễ bái Phật, hơn nữa còn dẫn toàn bộ gia quyến đi theo. Hành tung của ông lại vô cùng giản dị khiến nhiều người đều không hề hay biết.
Ảnh minh họa. Dẫn theo lichvansu.wap.vn
Đêm đó Trần Thông dẫn theo nhóm người đột nhập vào nhà Cố Ngạn Thành lùng bắt gia quyến của ông thì chẳng thấy một ai, hoàn toàn là tường vách trống không. Trần Thông còn ngờ rằng có người đã tiết lộ cơ mật, báo trước cho Cố Ngạn Thành biết mà lánh nạn.
Sau khi Cố Ngạn Thành làm pháp sự trong chùa xong xuôi mới biết trong thành đã xảy ra binh biến. Thế là ông cùng với người nhà ngay trong đêm vội vã lánh đến một nơi khác, nhờ vậy thoát được kiếp nạn diệt môn này.
Khi chuyện đã rồi, cả nhà Cố Ngạn Thành đều tin rằng Thần Phật đã phù hộ cho họ được bình an, tai qua nạn khỏi. Bè bạn của Cố Ngạn Thành sau khi biết chuyện cũng đều tấm tắc khâm phục và bắt đầu học ông tín phụng Thần Phật.
***
Người phương Tây có một câu ngạn ngữ rất hay như thế này: “Bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũng phảng phất hương thơm“. Trao gửi yêu thương, thiện lương, điều bạn nhận được chẳng phải cũng chính là hạnh phúc ngọt ngào đó sao?
Lòng tốt của người ta, hoặc thậm chí là ác tâm, cũng giống như một chiếc Bumerang. Bạn ném nó đi thật xa, cuối cùng rồi nó cũng trở về vị trí ban đầu, trở lại với chính bạn.
Mạnh Tử nói: “Nhân chi sơ, tính bản thiện“, ý tứ là con người dù mới sinh ra cũng đã sẵn mang trong mình sự lương thiện. Cũng có nghĩa là bản tính nguyên sơ của người ta là thiện lương, thuần phác, chân thành.
Con người là sản phẩm của Tạo hoá, của sự dung hợp Trời Đất, mang trong mình thiện niệm của vũ trụ. Một ý niệm tốt khởi phát cũng có thể khiến đất trời cảm thán. Cũng như vậy, một nghiệp ác tạo thành cũng làm người trời đều giận, khó thoát tai ương.
Con người là sản phẩm của Tạo hoá, của sự dung hợp Trời Đất. Ảnh minh họa dẫn theo pinterest.com
Người xưa luôn giảng về cái lý “Phản bổn quy chân“, rời bỏ u tối mà trở về với sự chân chính. Thành ngữ cũng có câu: “Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật” (buông bỏ đồ đao, lập địa thành Phật).
Chỉ cần người ta có thể quay trở về bản tính nguyên sơ của mình, vứt bỏ ác tâm và những hành động dơ bẩn, hạnh phúc và sự giải thoát trong đời nào có đâu xa?
Thế mới là:
Tranh đấu một đời khó nhọc tâm
Kết oan, tạo nghiệp ác muôn phần
Thiên lý chẳng dung nào trốn được?
Quay đầu bể khổ phải trầm luân
Thiện Sinh

6/1/17

Tác dụng "kỳ diệu" khi bạn chỉ ăn 2 quả đậu bắp mỗi sáng